Giới thiệu Giới Bổn

Giới: Tiếng Phạn Sila, theo nghĩa, dịch là giới. Giới [theo nghĩa hẹp] là những điều cấm chế, có công năng làm cho hành giả đề phòng, chế ngự thân, tâm, không cho phạm vào lỗi lầm (Hán: phòng phi chỉ ác). Giới là tiêu chuẩn quy định đệ tử Phật hành động thế nào là đúng pháp, hành động như thế nào là không đúng pháp.

Giới còn có nghĩa là “mát mẽ (Hán: thanh lương)”. Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) giống như cơn lửa phiền não đốt cháy hành giả, còn giới thì có thể dập tắt cơn lửa phiền não, làm cho hành giả mát mẽ, cho nên gọi là “thanh lương”.

Giới là bậc thang cho tất cả pháp lành, trong đó có bốn giai tầng là ngũ giới, bát giới, thập giới, và cụ túc giới. Phật tử nếu muốn từ địa vị phàm phu vượt lên thánh vị, phải theo thứ tự này mà tiến bước. (Đây là nói theo Tiểu thừa, còn theo Đại thừa, giới pháp Bồ tát bao quát cả bốn giai tầng này.)

Giới có công năng giúp cho hành giả ngăn chận pháp ác, đoạn trừ tất cả tập khí ác, diệt tận phiền não loạn tưởng, chứng đắc Niết bàn. Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Được gọi là giới, bởi vì nó có thể giúp hành giả diệt trừcác việc ác. Giới có thể giúp hành giả viên thành đạo quả, làm cho mọi người hoan hỷ. Giới, gọi là anh lạc trang nghiêm, vì làm cho hành giả hiện tướng trang nghiêm. Giới cấm của chư Phật, như bình Cát tường, tất cả nguyện cầu đều được toại ý; tất cả đạo phẩm đều do giới mà thành tựu. Như vậy, này các tỳ kheo! Kẻ nào tuân hành giới cấm, thì kẻ đó sẽ được đại quả báo, các điều lành sẽ đến. Kẻ đó được vị cam lộ, đến quả vị “vô vi”, sẽ được thần thông, diệt trừ loạn tưởng, chứng đắc “sa môn quả”, sẽ được Niết bàn.”

Bồ tát: Bồ tát là gọi tắt của “Bồ đề tát đỏa”, là dịch âm từ chữ Phạn Bodhisattva. “Bồ đề” dịch là giác, còn “tát đỏa” dịch là hữu tình, hợp lại gọi là “giác hữu tình”, có nghĩa là bất cứ đệ tử nào của Phật, hễ phát tâm “trên cầu Phật đạo, dưới độ hữu tình”, thì kẻ đó được gọi là Bồ tát.

Tại gia: Đệ tử của Phật được chia làm hai hạng xuất giatại gia. Tại gia gồm hai chúng là ưu bà tắcưu bà di. Ưu bà tắc, là dịch âm từ chữ Phạn upasika, theo nghĩa, được dịch là cận sự nam, hoặc cận thiện nam, hoặc cận túc nam, v.v… Thế nhưng, chỉ có nghĩa “cận sự nam” là chính xác nhất. “Cận”, có nghĩa là thân cận (gần gũi), “sự” có nghĩa là phụng sự, tức là thân cận phụng sự Tam bảo. Người nam gọi là ưu bà tắc, người nữ gọi là ưu bà di.