Xuất xứ kinh Thủ Lăng Nghiêm

Người đến đô thành lạ, nếu chẳng có bản đồ, thì không sao tránh khỏi lầm đường lạc nẻo. Người đi trong biển khơi diệu vợi, nếu không có kim chỉ nam, thì không dễ gì vượt qua mấy vạn trùng dương. Người đi đánh giặc, nếu không đọc binh thư đồ trận, am hiểu chiến lược, thì không sao thắng trận trở về.

Người tu hành cũng thế: nếu không hiểu rõ lối thẳng, khúc quanh, nơi hầm hố nguy hiểm trong đường lối tu đạo và các cảnh giới sẽ gặp trong từng bước chứng đạo, thì không sao tránh khỏi việc lạc vào nẻo tà, sa thân nơi ác đạo.

Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh quý báu vô cùng, chỉ dẫn đường lối tu hành một cách rõ ràng rành mạch và chỉ rõ cảnh giới của tâm cũng như con đường thành Phật. Người tu phải trải qua bao nhiêu địa vị, trong khi tu gặp những nguy hiểm nào, và làm sao mới tránh khỏi những điều nguy hiểm ấy, thì trong kinh Lăng Nghiêm này Phật dạy hết sức rành rẽ. Và hầu như cả vũ trụ nhân sinh này cũng gói gọn toàn bộ trong 10 quyển kinh ấy. Xứng danh là một Pháp Bảo.

Người tu hành hiểu được kinh Lăng Nghiêm, chẳng khác nào người bộ hành có bản đồ, kẻ thủy thủ có kim chỉ nam, vị tướng lĩnh có binh thư đồ trận.

Vì kinh Lăng Nghiêm quý giá như thế, nên thưở xưa các vị vua Ấn Độ cho là một quốc bảo, giữ gìn nghiêm ngặt không cho truyền bá ra ngoài. Những ai xuất cảnh đều bị khám xét gắt gao. Và để đề phòng kinh lọt ra ngoài, các nhân viên hải quan thường đặc biệt chú ý đến các vị Tăng sĩ xuất cảnh. Trong lúc ấy, bên Trung Hoa, có ngài Thiên Thai Trí Giả đại sư, nghe kinh Lăng Nghiêm quý báu như vậy, nên mỗi ngày hai lần sớm chiều xoay mặt về phía Tây (Ấn Độ) quì lạy cầu khẩn cho kinh Lăng Nghiêm được sớm truyền qua Trung Quốc, để lợi ích quần sanh.

Cách 100 năm sau, có ngài Bát Thích Mật Đế, người ở Ấn Độ, đã nhiều lần tìm cách đem kinh Lăng Nghiêm đến truyền bá tại Trung Hoa, nhưng không có kết quả, vì luật nước nghiêm cấm, kiểm soát quá chặt chẽ.

Đến lần cuối cùng, Ngài viết kinh trong miếng lụa mỏng, rồi cuốn lại, xẻ bắp thịt nhét vào, băng lại làm như người có ghẻ, mới đem được ra khỏi nước. Thử nghĩ: một cây cỏ cắt vào da còn đau, một mụn nhọt bé xíu trên thân còn biết nhức, huống hồ xẻ một đường dài nơi bắp thịt, nhét cho được một cuốn lụa nhỏ (nhỏ nhất cũng bằng ngón tay cái, và dài hơn một tấc) vào, trải qua bao nhiêu ngày, từ Ấn Độ đến Trung Hoa. Nếu không may bị tiết lộ, thì phải chịu tội tử hình. Như thế, chúng ta đủ thấy sự quí báu của kinh Lăng Nghiêm là dường nào! Tâm vì đạo quên mình của Bồ tát Bát Thích Mật Đế đáng cho chúng ta trọn đời bái phục.

Khi ngài Bát Thích Mật Đế đem kinh Lăng Nghiêm này qua Trung Hoa, đến đất Nam Thuyên, gặp quan Thừa tướng tên Phòng Dung, là bực bác học uyên thâm, lại có lòng mộ Phật nên ngài trình bày với Thừa tướng về giá trị của kinh Lăng Nghiêm mà ngài đã hy sinh mang đến.

Quan Thừa tướng nghe xong hết sức mừng rỡ, cho là được một vật báu chưa từng có. Nhưng khi đem cuốn lụa ra thì bị máu mủ bám vào lâu ngày, nên mờ cả chữ nghĩa.

Một người có công lớn trong việc này, là bà phu nhân của Thừa tướng Phòng Dung. Bà đem cuốn lụa ấy nấu với một chất thuốc hóa học, những máu mủ đều theo nước mà tan đi, chỉ lưu lại các nét mực, nên còn thấy để phiên dịch.

Quan Thừa tướng thỉnh ngài Bát Thích Mật Đế dịch chữ Phạn ra chữ Tàu. Ngài Di Già Thích Ca dịch từ ngữ, còn quan Thừa tướng nhuận sắc. Nên Kinh Lăng Nghiêm chẳng những nghĩa lý rất hay, mà văn chương cũng là tuyệt diệu. Từ xưa các học giả không những trong đạo Phật, mà cả đạo Nho, các đại gia văn chương một phen xem đến kinh Lăng Nghiêm đều kính phục và vô cùng khen ngợi cái nghĩa lý cao thâm và văn chương tuyệt diệu ấy.

Khảo xét quá trình lịch sử Phật giáo, bộ Kinh Lăng Nghiêm vốn xuất xứ từ Long Cung. Ngài Long Thọ Bồ Tát đã đọc bộ Long Tạng tại Long Cung. Lúc xem đến bộ Kinh này, Ngài dùng trí nhớ của Ngài ghi lại toàn bộ Kinh, do đó trên thế gian mới có bộ Kinh Lăng Nghiêm này.